Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Đăng lúc: 06/02/2026 (GMT+7)
100%


Đại hội XIV của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 19/1/2026 đến ngày 23/1/2026, tại Thủ đô Hà Nội, sau khi thảo luận các văn kiện do Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII,
QUYẾT NGHỊ
I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá kết quả thực thi Nghị quyết Đại hội XIII; kết quả tổng kết một số vấn đề lý luận thảo luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011-2025) nêu trong các nội dung của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII Đại hội. Cụ thể là:
1. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII
Nhiệm kỳ Đại hội XIII diễn ra trong bối cảnh thế giới có rất nhiều khó khăn, công thức, xuất hiện nhiều vấn đề rất mới, chưa có tiền hạn, đặc biệt là đại dịch Covid-19, kinh tế thế giới suy giảm, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo diễn ra nhanh, sâu sắc và toàn diện; các vấn đề về biến khí hậu, an ninh mạng, phi truyền thống ngày càng phức tạp.
Với ý chí, khát vọng phát triển, tư duy đổi mới, quyết tâm cao, hành động quyết định, an toàn Đảng, an dân, an toàn ta có sức chung, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII.
Đảng ta vững vàng lãnh đạo đất nước tiếp tục đạt được những kết quả rất quan trọng, toàn diện với nhiều điểm sáng nổi bật. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được đảm bảo, duy trì tăng trưởng ở mức độ cao.
Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát tốt; dư thương liên tục ở mức cao; thị trường trong nước phát triển mạnh toàn diện. Các nguồn lực đầu tư phát triển được huy động và sử dụng hiệu quả hơn, nhất là nguồn lực nhà nước.
Nhiều dự án tồn tại, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, các tổ chức tín dụng yếu kém đã được xử lý chấm dứt, đạt nhiều kết quả tích cực.
Thực hiện quyết định, ứng phó kịp thời, hiệu quả nhiều giải pháp bảo vệ, Đẩy lùi đại dịch Covid-19, như "ngoại trừ vắc xin", tiêm miễn phí toàn quốc và thực hiện mục tiêu "kép" vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa phục hồi, cung cấp phát triển kinh tế nhanh chóng, bền bỉ cho giai đoạn sau đại dịch.
Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường; quan hệ đối thoại và hội nhập quốc tế được nâng tầm và đạt được nhiều kết quả nổi bật.
Xây dựng, điều chỉnh cho Đảng và hệ thống chính trị đạt được nhiều thành tựu Thành tựu rất quan trọng, có mặt nổi bật, đột phá chưa từng có.
Đặc biệt, nhiệm vụ cuối cùng đã ban hành và tổ chức thực hiện quyết định, đồng bộ, hiệu quả cao nhiều quyết định về chiến lược mang tính bước mỏng, tạo thế và động lực để tăng tốc độ phát triển.
Công ty xây dựng luật có nhiều thay đổi mới, loại bỏ các điểm dừng có thể chế độ. Cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được những kết quả mang tính đột phá, có thể quản lý, cộng viên, Nhân dân đồng tình ủng hộ, dư luận quốc tế đánh giá cao.
Trong nhiệm vụ kỳ qua, Việt Nam là điểm sáng về ổn định chính trị, an ninh, an toàn và ổn định xã hội. Đảng ta đã có thể đột phá về tư duy, tầm nhìn và hành động, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và kiến ​​tạo phát triển, chủ động nắm bắt, tận dụng thời cơ, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bên bờ những thành tựu đạt được, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường còn chậm; năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chịu đựng và cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Kết hợp giữa phát triển kinh tế-xã hội với phòng bảo đảm quốc gia, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn chưa được quan tâm đúng mức.
Tình trạng ngập, ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm quan trọng hơn, nhất là môi trường ở đô thị lớn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các làng nghề.
Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh của sự phát triển.
Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn tồn tại điểm nhấn, nút thắt.
Tổ chức đã tổ chức thực hiện các quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đổi mới, cách làm hay, song vẫn chưa bắt kịp yêu cầu phát triển đột phá của đất nước.
Công ty cán bộ còn một số điểm chưa hoàn thiện, trước khi hết là khâu đánh giá cán bộ; Kiểm soát quyền và quản lý các cấp chiến lược có chế độ hạn chế. Một số tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp xã hội sau sắp xếp, hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền mới thời gian đầu nhưng gặp khó khăn, thoải mái.
Hoạt động của Mặt trận quốc gia và các tổ chức chính trị-xã hội trong giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích pháp, chính đáng của Nhân dân chất lượng chưa cao. Quyền làm chủ của Nhân dân chưa thể chế độ đầy đủ, có lúc, có nơi còn bị vi phạm.
Xây dựng nhà nước pháp luật chủ nghĩa xã hội vẫn còn chế độ hạn chế. Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền thiết lập, hành pháp, tư pháp có mặt nạ rõ ràng, thiếu chặt chẽ; hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước chưa cao. Vai trò lãnh đạo của một số thú vật nhưng có chế độ hạn chế.
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có lúc, có nơi chưa khảo sát thực tiễn, thiếu chiều sâu. Còn một số công việc bất ổn, nhất là cán bộ quản lý; Kiểm soát quyền trong bộ tác vụ có chế độ hạn chế.
2. Về 40 năm đổi mới
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi động và lãnh đạo là một trong những lựa chọn mang tính lịch sử, là một quá trình phát triển toàn diện về tư duy, nhận thức lý luận về đường lãnh đạo của Đảng xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; là sự nghiệp vĩ đại mang tầm tầm lịch sử, có ý nghĩa mở rộng ra kỷ nguyên mới, nâng tầm vị thế cho đất nước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, làm Nhân dân Việt Nam thực hiện.
Những điều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong 40 năm đổi mới là kết quả của quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại; lãnh đạo đạo của Đảng, sức mạnh lớn của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố hàng đầu quyết định mọi lợi ích của cách mạng Việt Nam; Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm quý giá mang tầm lý luận, từng bước xây dựng và hoàn thiện luận về đường hoàng đổi mới, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước trong giai đoạn mới.
II- Tầm nhìn và phát triển định hướng
Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, công thức lớn đan xen; trong nước đang phát triển những quyết định chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới rất cao; đồng thời gian đây cũng là bước ngựa mới, vận động hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy sức mạnh đại đoàn kết, chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng các lợi ích quan điểm, mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Quan điểm chỉ đạo
(1) Kiên định, vận động và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; thể hiện các mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cung cấp định nghĩa toàn diện, đồng bộ cuộc đổi mới; định nghĩa các quy tắc và hoạt động của Đảng; tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, phát triển phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh hơn, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
(2) Nhận diện sớm, tận dụng mọi lợi ích, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; Thúc đẩy mạnh mẽ đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế, kết nối chặt chẽ và phát triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; build Đảng lúc đó đã xong; phát triển văn hóa hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.
(3) Khơi dậy mạnh truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh cho sự phát triển phát triển.
thúc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh chóng, vững chắc đất nước, giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các điểm kích, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất; hoàn thiện cơ chế phát triển gắn kết với thực hiện đồng bộ: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cấu hình cơ sở và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng lực nhân tài, thúc đẩy phát triển năng lực sản xuất mới.
(4) Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, minh quyết, chiến đấu bảo vệ vững chắc, chủ quyền, thống nhất, toàn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa; Gắn chặt, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố phòng quốc gia, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Bảo đảm và bảo vệ lợi ích cao nhất của quốc gia dân tộc trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến pháp Liên hợp quốc.
(5) Tăng cường xây dựng, điều chỉnh Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững chắc; tập đoàn nhất; vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả tổ chức máy chủ mới của hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức mạnh chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến ​​tạo phát triển của Nhà nước; không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên thực sự tiêu biểu về lĩnh vực chính, sản phẩm chất, năng lực, uy tín. Gắn kết chặt tổng kết thực tiễn, nghiên cứu thảo luận về xây dựng và tổ chức thực hiện đường hoa, tài khoản của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thắt chặt mối quan hệ gắn bó thiết bị giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, hiển thị, hiển thị chiến tranh phòng, chống tham khống, lãng phí, quan kiềm, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
2. Mục tiêu phát triển
Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong thời nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, ngọc vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
3. Về các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026-2030
- Về kinh tế: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng trên đơn vị GDP ở mức 1-1,5%/năm. Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%.
Tổng tích lũy tài sản khoảng 35-36% GDP; trọng tâm cuối cùng khoảng 61-62% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm chiếm khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 20-22%. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP.
- Về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 20%; cơ chế lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%. Tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030) duy trì mức giảm 1-1,5 điểm %/năm. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất.
- Về môi trường: Tỉ lệ che phủ rừng duy trì 42%; quy trình xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt 65-70%; lượng phát khí thải nhà kính giảm 8-9%; cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98-100%; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.
4. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030
(1) Tiếp tục đổi mới mạnh tư duy, thúc đẩy phát triển chiến lược, kiến ​​trúc tạo hệ sinh thái phát triển phát triển mới, bảo đảm quan điểm phát triển để ổn định, định hướng ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện giao diện, đồng bộ có thể phát triển nhanh chóng, vững chắc trên đất nước, trong đó có thể chế độ chính trị là chốt, có thể chế độ kinh tế là quan trọng, các thể chế khác là quan trọng.
(2) Xác minh thiết lập mô hình tăng trưởng mới với nâng cao năng suất tiêu chuẩn, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, tâm trí là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; Cung cấp chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ sở và chất lượng nguồn nhân lực. Xác định các công nghệ tăng cường năng lực mới và học tập, công nghệ là trọng tâm để thúc đẩy, tạo ra hệ thống truyền thông năng lực tăng trưởng mới.
Các loại thành phố cực tăng trưởng mạnh, các khu kinh tế quan trọng, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu. Thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn kết ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát kiểm phát, đảm bảo cân bằng lớn của nền kinh tế. đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Giải pháp tốt cho mối quan hệ giữa các nhà sản xuất chủ yếu trong nước với việc tham gia vào mạng lưới sản xuất và giá trị toàn cầu.
(3) Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng nền giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số.
(4) Xây dựng nền giáo dục quốc gia hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới. Nhận thức thức sâu sắc, đầy đủ và thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là sách hàng đầu quốc gia, quyết định tương lai dân tộc; phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Thực hiện hiệu quả các quyết định chiến lược xây dựng nền giáo dục quốc gia hiện đại, công bằng theo hướng "chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế".
Đổi mới và hoàn thiện đồng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực, ngành, nghề trọng điểm, chiến lược. thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập vững chắc đời, phát triển các mô hình, phương thức, phong trào học tập theo hướng đa dạng hoá, phù hợp với các đối tượng, từng địa phương.
(5) Tiến bước phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. tài khoản, quyết định thay đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ, các lĩnh vực mũi nhọn phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông tin quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; giải quyết dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các lĩnh vực mũi nhọn khác, quan trọng là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự động chủ yếu cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp tư vấn phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
(6) Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân. Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững; phát triển kinh tế gắn kết với bảo đảm tiến bộ, công nghệ xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Xây dựng cấu hình cơ sở hợp lý trên hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội. Khuyến khích các mô hình, cách làm sáng tạo trong quản lý phát triển cộng đồng bền vững.
(7) Quản lý và sử dụng tài nguyên hiệu quả, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với hậu biến khí hậu. Hoàn thiện đồng luật, cơ chế, chính sách, chiến lược quản lý tổng hợp, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; Ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý hiệu quả vi phạm pháp luật về tài nguyên, môi trường.
(8) Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc, hiển quyết, triển khai bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước; Bảo vệ chắc chắn an ninh quốc gia, an ninh chế độ, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, an ninh năng lượng, ninh nguồn nước, an ninh lương thực...; tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; Tiền phòng, tiến lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định giá trị chính từ bên trong; Ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; Củng cố và củng cố môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
(9) Thực hiện nhất quán đường lối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; phát triển đối ngoại trong thời nguyên mới, tương xứng với tầm quan trọng lịch sử, văn hóa và vị trí của đất nước. thúc đẩy mạnh mẽ khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế có chiều sâu, diện tích, hiệu quả. Bảo đảm và bảo vệ lợi ích cao nhất của quốc gia dân tộc trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.
(10) Phát huy mạnh mạnh vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi tài khoản, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tôn giáo trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu.
(11) Tiếp tục cung cấp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới lãnh thổ của Bảng Cộng sản Việt Nam, thiết lập tổng thể công trình xây dựng, chỉnh sửa Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững chắc toàn diện; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm túc; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Nghiên cứu pháp luật năm 2013 phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
(12) Tiếp tục Cung cấp xây dựng, điều chỉnh cho Đảng trong sạch, vững chắc toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chiến đấu của Đảng. Tăng cường xây dựng, chỉnh sửa, tự đổi mới để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130); Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh vực xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đổi mới công tác tuyên truyền, dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa với Nhân dân, dựa vào Nhân dân Đảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Bảo đảm hoạt động của các cơ quan, được tổ chức trong hệ thống hiệu quả chính, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Tăng cường củng cố, xây dựng cơ sở chức năng và nâng cao chất lượng nhóm ngũ sắc. Trung tâm xây dựng đội ngũ cán bộ cấp độ là cấp chiến lược và cơ sở cấp cao nhất là người đứng đầu. đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, nhất là tăng cường giám sát thường xuyên. Kiên quyết, trình diễn Tặng tranh ức chế, đưa lùi tham nhũng, lãng phí, quan trọng, tiêu cực. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới.
5. Nhiệm vụ tâm trí trong nhiệm kỳ Đại hội XIV
(1) Tập trung ưu tiên xây dựng bộ cơ sở phát triển, tâm trí là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cố gắng giải quyết kịp thời, hạn chế các nút thắt, điểm hấp dẫn, cung cấp sự đổi mới sáng tạo, đảm bảo sự đồng bộ, hài hòa giữa tăng trưởng và phát triển; giữa kinh tế, xã hội, môi trường với phòng quốc tế, an ninh, đối ngoại; giữa đổi mới, hoàn thiện thể chế với các chuyển đổi tâm trí, toàn diện trên mọi lĩnh vực, phù hợp với mô hình chính quyền 3 cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh chóng, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
(2) Tiếp tục Cung cấp xây dựng, điều chỉnh cho Bên và hệ thống chính trị trong lành, vững chắc toàn diện; đổi mới đồng bộ phương thức và nâng cao năng lực tự đổi mới, tự động hoàn thiện để tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Triển khai hoạt động có hiệu quả tổ chức mô máy hệ thống chính trị theo hình thức mới bảo đảm vận hành đồng bộ, thông minh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh chóng và bền vững. Tiếp tục đổi mới công cụ quản lý chất lượng, hiệu quả tốt nhất là công việc xác định, đánh giá bộ máy. Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp thực sự có tài, có tài, không ngừng đổi mới, nhiệm vụ ngang tầm. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; Tiếp tục tặng mạnh đấu tranh phòng, chống tham mê, lãng phí, quan phú, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
(3) thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực sản xuất mới; phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong công việc đảm bảo ổn định vĩ mô, cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ sở cấu hình nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính gắn kết đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức mạnh tranh cãi của nền kinh tế. Thúc đẩy phát triển năng lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, tâm huyết là nhà phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường.
(4) Cơ sở phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, ưu tiên phát triển một số công nghiệp ngành, công nghệ chiến lược, tâm điểm là bán dẫn chip, trí tuệ nhân tạo; Thúc mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực rồi thúc đẩy nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lượng cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế.
(5) Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực để phát triển sự phát triển nhanh chóng, bền vững của đất nước. Xây dựng nền giáo dục quốc gia dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, trung tâm là nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng và đầu tư cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tiếp tục đổi mới phương thức quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội bền vững; giải quyết tốt các chính sách xã hội, bảo đảm an ninh, an sinh, an toàn, dân dân, nhất là các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế, lực lượng lao động trong khu vực phi chính thức, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
(6) Tiếp tục xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn lãnh thổ, biển, đảo của đất nước. thúc đẩy phát triển đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công việc đối ngoại; nâng tầm và phát huy vai trò đối ngoại bang, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân trong việc kiến ​​tạo môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, thuận lợi cho phát triển đất nước.
Các chiến lược đột phá:
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng cần tập trung vào những nội dung sau đây:
(1) Bước phát triển mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực kế hoạch và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực; Cung cấp mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa Trung tâm và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến ​​trúc phát triển; phát triển kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò quản lý chủ đạo, nhà phát triển phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng hệ sinh thái nghiệp vụ mới; phát triển năng lực sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.
(2) Tập trung chuyển đổi cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; khuyến khích thu hút và trọng lực nhân tài; Khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, suy nghĩ, giải thích, chiến đấu cam kết vì lợi ích chung. Đổi mới công tác cán bộ, đảm bảo khách hàng, dân chủ, chất lượng, hiệu quả, tốt nhất là công tác xác minh, đánh giá giá cán bộ theo tài khoản chủ chính xác "có vào, có ra", "có lên, có xuống". Xây dựng đội ngũ lãnh đạo cấp cao, quản lý các cấp chính trị của hệ thống, ít nhất là có thể là bộ cấp chiến lược và cơ sở thực sự cần thiết, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển đột phá của đất nước.
(3) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong việc xây dựng cấu hình hạ tầng kinh tế-xã hội; tốt nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương pháp, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến ​​trúc phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạ tầng văn hóa, giáo dục, có thể thao tác.
III- Thông qua báo cáo chính trị, báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV căn cứ ý kiến ​​của Đại hội và báo cáo giải trình của Đoàn Chủ tịch Đại hội để hoàn thiện và chính thức ban hành.
IV- Thông qua báo cáo tổng kết 15 năm Điều hành Đảng (2011-2025) và đề xuất, bổ sung hướng dẫn cụ thể, sửa đổi Đảng Điều lệ của Ban Chấp nhận Đảng khóa XIII; đồng ý không bổ sung, sửa đổi Thực hiện Đảng điều chỉnh. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chỉ đạo nghiên cứu tổng kết thực hiện thi hành điều khiển Đảng ngay từ đầu nhiệm kỳ để báo cáo kết quả thực hiện và xuất bản bổ sung, sửa đổi Điều khiển Đảng cùng với bổ sung sung, sửa đổi Cương xây dựng đất nước trong thời kỳ quá tốc độ xã hội tại Đại hội XV của Đảng vào thời kỷ 100 Năm Ngày thành lập Đảng; đồng thời chỉ đạo nghiên cứu, tiếp tục thu để điều chỉnh thông tin quy định, hướng dẫn của Trung lượng; tăng cường kiểm tra, giám sát, đảm bảo thi hành nghiêm túc, thống nhất, hiệu quả Điều lệ Đảng.
V- Thông qua báo cáo kiểm tra lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII Đại hội XIV. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp thu ý kiến ​​của Đại hội, phát huy ưu điểm, giải quyết hòa bình, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.
VI- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm 200 đồng chí, trong đó có 180 đồng chí Ủy viên Chấp hành Trung ương Đảng chính thức, 20 đồng chí Thành viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng dự thiện.
VII- Chấp hành Trung Quốc Đảng khóa XIV và các cấp ủy, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi đường hoàng và những tài khoản chủ đề trong các cuộc hội nghị Đại hội XIV.
Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đổi mới mạnh mẽ duy duy, thống nhất ý chí và hành động; thực hiện đồng bộ, hiệu quả quyết định các chiến lược; quyết tâm thực hiện lợi Nghị quyết Đại hội vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, sùng vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV